Nhận diện và phản bác luận điệu sai trái, thù địch về hài hòa hóa pháp luật
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, hài hòa hóa pháp luật là một xu hướng tất yếu, thúc đẩy tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, đây cũng là một bài toán khó đòi hỏi các quốc gia phải tỉnh táo, linh hoạt đặt lợi ích quốc gia trong tương quan lợi ích quốc tế. Lợi dụng vấn đề trên, các thế lực thù địch xuyên tạc rằng pháp luật Việt Nam chưa “hòa mình” vào dòng chảy của pháp luật quốc tế, hòng tác động tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam.

Quang cảnh Đối thoại An ninh và Thực thi pháp luật Việt Nam – Hoa Kỳ lần thứ hai tại Washington D.C (Hoa Kỳ) _Ảnh: TTXVN tại Mỹ
Hài hòa hóa pháp luật: Lợi ích và thách thức
Hài hòa hóa pháp luật (legal harmonization hay harmonization of law) “là việc các quốc gia thống nhất các mục tiêu chung cần đạt được, sau đó mỗi quốc gia có quyền tự sửa đổi, ban hành pháp luật mới trong nước của mình để đạt được các mục tiêu chung đó”(1). Theo H.C. Gutteridge, Giáo sư Đại học Cambridge về luật so sánh, hài hòa hóa pháp luật không chỉ là quá trình thụ động sửa đổi pháp luật của quốc gia sao cho phù hợp, tương thích với pháp luật chung của khu vực và quốc tế, mà còn là quá trình chủ động thiết lập, xây dựng các luật mẫu và triển khai biện pháp khuyến khích các quốc gia khác tiếp cận và áp dụng các luật mẫu này(2).
Như vậy, hài hòa hóa pháp luật được hiểu là quá trình quốc gia tự nguyện sửa đổi, hoàn thiện pháp luật quốc gia theo các nguyên tắc, quy phạm của pháp luật quốc tế hoặc chủ động đề xuất các nguyên tắc, quy phạm pháp luật và khuyến khích các quốc gia khác thừa nhận, áp dụng các nguyên tắc, quy phạm đó nhằm làm giảm đi sự khác biệt trong quy định pháp luật ở những lĩnh vực cụ thể giữa các quốc gia.
Các quốc gia có thể tiến hành hài hòa hóa pháp luật bằng nhiều phương thức khác nhau: Chủ động tham gia xây dựng, định hướng các quy phạm pháp luật quốc tế phù hợp với lợi ích, quan điểm của quốc gia mình; lựa chọn áp dụng, dẫn chiếu trực tiếp pháp luật quốc tế (chấp nhận); nội luật hóa (chuyển hóa) pháp luật quốc tế trở thành pháp luật quốc gia. Hài hòa hóa pháp luật không phải là quá trình “phủ định sạch trơn” pháp luật quốc gia, thay thế pháp luật quốc gia bằng pháp luật quốc tế, mà nó cho phép các quốc gia lưu giữ, bảo tồn những quy phạm pháp luật riêng có, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia mình.
Hài hòa hóa pháp luật đem lại những lợi ích, cơ hội to lớn cho các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng trong bối cảnh toàn cầu hóa, giúp “gia tăng tính dự đoán trước (predictability) và làm giảm tính không chắc chắn (uncertainty) của việc áp dụng pháp luật”(3). Ngoài ra, việc hài hòa hóa pháp luật quốc gia theo các chuẩn mực pháp lý chung trong khu vực và thế giới sẽ giúp Việt Nam tiếp cận dần với “luật chơi chung” của khu vực và thế giới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi. Quá trình này còn giúp quan hệ kinh tế, cũng như quan hệ văn hóa – xã hội và quốc phòng – an ninh của Việt Nam ngày càng gắn kết với các thành viên khác trong khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang bị thách thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan”(4). Trong bối cảnh đó, luật pháp quốc tế có thể trở thành một công cụ để tạo “tính chính danh” cho các hành động can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Vì vậy, hài hòa hóa pháp luật cũng đưa lại những thách thức về gìn giữ giá trị bản sắc dân tộc, an ninh quốc gia, độc lập và chủ quyền của đất nước trong bối cảnh các quốc gia dễ bị cuốn vào vòng xoáy cọ xát, va chạm và xung đột về lợi ích, mục tiêu, tham vọng trong quá trình “hội nhập pháp luật”.
Xuất phát từ khía cạnh lợi ích quốc gia – dân tộc, các nước thường có xu hướng hài hòa hóa pháp luật một cách mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh doanh, thương mại, bảo vệ môi trường hơn là trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, dân chủ và chủ quyền.
Lợi ích quốc gia luôn là điểm trọng yếu để dẫn dắt chính sách đối ngoại của các nước. “Yếu tố quan trọng nhất cho việc thực thi theo luật pháp vẫn là lợi ích của các nước”(5). Các quốc gia có thiện chí, chủ động trong hài hòa hóa pháp luật nước mình với pháp luật quốc tế hay không phụ thuộc phần nhiều vào việc luật pháp quốc tế có hài hòa với lợi ích, năng lực, mục tiêu, giá trị, bản sắc của quốc gia hay không. Hài hòa hóa pháp luật trong một thế giới đầy biến động và khó lường, khó dự đoán như hiện nay đòi hỏi các quốc gia phải hết sức tỉnh táo, thận trọng thay vì bằng mọi giá.
Nhận diện, phản bác những luận điệu xuyên tạc về hài hòa hóa pháp luật
Mặc dù hài hòa hóa pháp luật là một học thuyết đã được hình thành từ đầu thế kỷ XIX, được bàn luận rất sôi nổi trên các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhưng những nghiên cứu chuyên sâu về hài hòa hóa pháp luật ở Việt Nam còn hạn chế. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực phản động ra sức xuyên tạc chính sách, pháp luật của Việt Nam bằng những luận điệu vô căn cứ.
Ở khía cạnh hài hòa hóa pháp luật, các thế lực phản động xuyên tạc “Việt Nam không tuân thủ các điều ước quốc tế gia nhập, nhất là vi phạm Luật Nhân quyền quốc tế”(?!).
Các thế lực thù địch viện dẫn những điều khoản mang tính khuyến nghị/tùy nghi (không bắt buộc các thành viên tham gia Công ước phải thực hiện) trong UNCAC như: “hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp”; “áp dụng kỹ thuật điều tra đặc biệt”; “thành lập cơ quan tình báo tài chính”… hòng vu cáo Việt Nam vi phạm các quy định của Công ước.
Các thế lực thù địch cố tình phủ nhận hoàn toàn tính độc lập tương đối của pháp luật quốc gia, tuyệt đối hóa pháp luật quốc tế, coi đó là “đẳng cấp chung” mà Việt Nam cần thay thế cho pháp luật của nước mình. Các thế lực thù địch đòi “sửa đổi” các chế định cơ bản về chính trị, kinh tế trong Hiến pháp hòng “bẻ lái” con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; đòi “sửa đổi” những quy định liên quan đến dẫn độ, truy nã, các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tương trợ tư pháp để dung túng cho những đối tượng lưu vong; đòi “quy định về tự do trên không gian mạng” để “nội công, ngoại kích” tuyên truyền, lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá; đòi “sửa đổi” quy định về “tự ứng cử” như các nước phương Tây để phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp…
Những luận điệu xuyên tạc về hội nhập pháp luật Việt Nam núp bóng luận điệu xuyên tạc về “tư duy đa phương”, “toàn cầu”, “tiến bộ” nhưng thực chất là đang cổ xúy cho cách thức hài hòa hóa pháp luật vô nguyên tắc, tạo cớ để xuyên tạc Việt Nam “không coi trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế” (?!), nhất là lợi dụng các vấn đề pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá nước ta.
Tuy nhiên, hài hòa hóa pháp luật phải căn cứ vào từng bối cảnh và khả năng đáp ứng cụ thể của đất nước trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng những chiều hướng, tác động thuận, nghịch của tình hình quốc tế. Bởi vậy, sẽ là huyễn hoặc mơ hồ khi cho rằng pháp luật quốc tế là tiêu chuẩn chung mà pháp luật quốc gia phải “hòa tan” vào bằng mọi giá.
Việt Nam chủ động, trách nhiệm trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật
Với phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”, trong những năm qua, Việt Nam tăng cường đối thoại và hợp tác quốc tế, tích cực hài hòa hóa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế. Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người và được luật hóa trong hệ thống pháp luật quốc gia. Kết quả, Việt Nam hai lần được bầu chọn vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao. Điều đó thể hiện sự ghi nhận của bạn bè quốc tế đối với những chính sách, pháp luật và thành tựu thực tiễn của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người trên các lĩnh vực.
Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, kể từ khi tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), Việt Nam luôn nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách để phù hợp với các yêu cầu của Công ước, được đánh giá là một thành viên trách nhiệm và tích cực trong UNCAC. Những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng trong thực tiễn càng là minh chứng thuyết phục cho nỗ lực đó của Đảng và Nhà nước ta…
Trong hợp tác quốc tế về pháp luật, Việt Nam “Chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới, nhằm tạo ra sự thay đổi về chất trong công tác hợp tác quốc tế về pháp luật. Nghiên cứu giải pháp gia tăng sự hiện diện của chuyên gia pháp luật Việt Nam trong các thiết chế luật pháp quốc tế”(6); “Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu”(7); “Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị – kinh tế quốc tế”(8). Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã xác định một trong các nhiệm vụ và giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền là: “Chủ động tham gia, đóng góp vào việc xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự quốc tế, khu vực. Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế; giải quyết hiệu quả các xung đột về thẩm quyền và pháp luật giữa Việt Nam và các quốc gia khác, bảo đảm tốt các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước Việt Nam”.
Khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 quy định: “Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp”. Điều này thể hiện sự linh hoạt, tích cực hội nhập của Việt Nam trên tinh thần kiên định “hòa nhập nhưng không hòa tan”.
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) có tới 26 lần nhắc tới “điều ước quốc tế” tại 21 điều luật; đưa ra nhiều quy định để bảo đảm sự tương thích giữa văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể, Luật yêu cầu việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải “không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế” (Điều 5, Điều 156); đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định “phải căn cứ vào điều ước quốc tế” (Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 84); “Tổ chức nghiên cứu điều ước quốc tế” là trách nhiệm của cơ quan đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 85, Điều 97, Điều 112); Bộ Ngoại giao có trách nhiệm “cho ý kiến về sự tương thích của văn bản quy phạm pháp luật với điều ước quốc tế” (Điều 36, Điều 86); “Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan” là một trong những nội dung thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật (Điều 39, Điều 58, Điều 65, Điều 88, Điều 92, Điều 98, Điều 102); Việc thực hiện điều ước quốc tế là một trong những “trường hợp được xem xét điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh” (Điều 51); Quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có khả năng làm thay đổi “hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật” ở Việt Nam (Điều 115)… Có thể thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam được xây dựng hướng tới bảo đảm sự tương thích, hài hòa với pháp luật quốc tế, thể hiện sự tuân thủ nguyên tắc tận tâm, thiện chí (pacta sunt servanda) trong thực hiện pháp luật quốc tế.
Trên khía cạnh thực tiễn, Việt Nam ngày càng chủ động, tích cực tham gia xây dựng luật quốc tế. Năm 2016, qua hệ thống bầu cử của Đại hội đồng Liên hợp quốc, lần đầu tiên Việt Nam có đại diện tại Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) – cơ quan pháp lý quan trọng của Liên hợp quốc(9). Việt Nam chủ động đề xuất, đóng góp lý luận từ thực tiễn trong nước và các nước đang phát triển vào các báo cáo của Ủy ban Luật pháp quốc tế, góp phần bảo vệ tốt nhất quyền lợi của các nước đang phát triển và các nước nhỏ, như: Đề xuất đưa đề tài tác động của mực nước biển dâng vào luật quốc tế; tích cực đề xuất phương án kiện toàn các quy định của luật quốc tế về phòng, chống dịch bệnh và đưa ra sáng kiến thông qua Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh; tham gia các sáng kiến, cơ chế hợp tác thực chất về an ninh biển(10)…
Các phương thức hài hòa hóa pháp luật cũng được Việt Nam áp dụng một cách linh hoạt. Ở phương thức chấp nhận, Việt Nam cam kết áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần các quy định chung của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1967, Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật năm 1971, các cam kết quốc tế với Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), Hiệp định Đối tác tToàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)… Ở phương thức chuyển hóa, Việt Nam ban hành nhiều văn bản luật mới như Luật Bình đẳng giới năm 2006 nhằm thực hiện Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW). Để chuyển hóa nội dung Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966, Quốc hội Việt Nam ban hành nhiều văn bản luật, như Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2023…
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng chuyển hóa pháp luật quốc tế bằng sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều khoản trong hệ thống pháp luật hiện hành. Ví dụ, Việt Nam chỉnh sửa, bổ sung pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự, pháp luật kinh doanh, thương mại… để bảo đảm sự phù hợp, tương thích với các quy định của Hiệp định CPTPP, EVFTA. Chỉ trong 2 năm đầu gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (2006 – 2007), Việt Nam sửa đổi, bổ sung hơn 60 văn bản luật và hàng trăm nghị định, thông tư trên các lĩnh vực đầu tư, thương mại, thuế, lao động, bảo hiểm,… để thực thi các cam kết với WTO. Quá trình này tiếp tục được đẩy mạnh trong giai đoạn hội nhập sâu rộng sau đó. Khi tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, Việt Nam đã chủ động xây dựng và hoàn thiện pháp luật để đáp ứng các tiêu chuẩn cao. Cụ thể, để thực thi Hiệp định CPTPP, tính đến tháng 8-2024, Việt Nam đã ban hành 25 văn bản quy phạm pháp luật. Trong hai năm đầu thực thi Hiệp định EVFTA (2020 – 2022), đã có 9 văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung và ban hành. Việt Nam luôn tích cực, chủ động hài hòa hóa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, thể hiện sự tôn trọng, trách nhiệm trong thực hiện pháp luật quốc tế tiến tới xây dựng một cộng đồng chung vì độc lập, hòa bình, thịnh vượng và phát triển.
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương, có sự phát triển năng động, là chủ thể tích cực, đáng tin cậy và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh cục diện chính trị – an ninh – kinh tế thế giới và khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang trải qua những biến động đa chiều, phức tạp, khó đoán định và chưa có tiền lệ, “luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn”(11), đòi hỏi Việt Nam phải có những bước đi thận trọng, khéo léo, phù hợp trong tiến trình hài hòa hóa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.
Nhìn vào thực tế áp dụng các điều ước quốc tế, có thể thấy, Việt Nam chỉ “áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện” (khoản 2 Điều 6, Luật Điều ước quốc tế năm 2016). Đồng thời, đối với những điều ước quốc tế đóng vai trò là đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế, là động lực cho các bước tiến hội nhập trong khu vực và quốc tế sẽ thường được ưu tiên áp dụng trực tiếp để tận dụng thời gian, tranh thủ cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập phát triển. Ví dụ, Nghị quyết số 71/2006/QH11, ngày 29-11-2006, của Quốc hội về việc Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư”, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam với cải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế.
Trong khi đó, phương thức áp dụng điều ước quốc tế bằng con đường nội luật hóa (chuyển hóa) được thực hiện khi nội dung của điều ước quốc tế chưa đủ rõ hoặc chưa đủ chi tiết; những vấn đề phức tạp mà việc áp dụng phải tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử – cụ thể. Hay việc thực hiện điều ước quốc tế còn tùy vào động thái của các bên trên nguyên tắc “có qua có lại”. Chẳng hạn, khi chấp nhận hiệu lực của Công ước về chống tra tấn của Liên hợp quốc năm 1984, Quốc hội Việt Nam đưa ra tuyên bố bảo lưu có nội dung như sau: “Không coi quy định tại khoản 2 Điều 8 của Công ước là cơ sở pháp lý trực tiếp để dẫn độ. Việc dẫn độ sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam trên cơ sở các hiệp định về dẫn độ mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc nguyên tắc có đi có lại”(12).
Hài hòa hóa pháp luật ở Việt Nam gắn với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo tồn giá trị bản sắc dân tộc, bảo đảm lợi ích của đất nước, của nhân dân như Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(13); “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc”(14).
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn, trong hoạt động ngoại giao, phải trông vào thực lực quốc gia vì “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”(15). Trong hài hòa hóa pháp luật, Việt Nam tận dụng được lợi thế, bảo vệ được lợi ích quốc gia khi chủ động tham gia tạo ảnh hưởng, gia tăng vị thế, uy tín của mình trong khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã, đang và sẽ luôn chủ động, tích cực, tăng cường sự hiện diện và tiếng nói trong các diễn đàn xây dựng luật pháp quốc tế để bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc mình, cũng như chủ động đóng góp tích cực vào sự phát triển, tiến bộ chung của luật pháp quốc tế./.
Sưu tầm
FACEBOOK
Ý KIẾN BẠN ĐỌC




















